Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

BÀI THUYẾT TRÌNH CỦA THIỆN HỮU SOẠN




TOÀN THỂ THÀNH VIÊN TỔ 4 

KÍNH ĐẢNH LỄ GIÁO THỌ SƯ
VÀ 
ĐẠI CHÚNG

KÍNH ĐẾN LỜI CHÀO THÂN THƯƠNG ĐẠO VỊ



TỔ 4 XIN ĐƯỢC THUYẾT TRÌNH ĐỀ TÀI


ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
DÀN BÀI
I. NHẬP ĐỀ
II. NỘI DUNG
1. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NGƯỜI ĐỀ XUẤT
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
3. KHÁI NIỆM TRÊN NGÔN NGỮ VỀ ĐỐN NGỘ - PHẬT TÁNH
a. Đối với đốn ngộ là tiệm ngộ
Tiệm Ngộ:.
Đốn ngộ:
b. Đốn ngộ thành Phật:
4. NGỘ LÝ BẤT NHỊ, PHÙ HỢP LÝ BẤT PHÂN
5. KIẾN GIẢI VỚI VĂN GIẢI
6. TẠ LINH VẬN – NĂNG CHÍ VỚI NHẤT CỰC
Thuyết Năng chí với Nhất cực:
Tiểu sử của Tạ Linh Vận:
7. NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI VIẾT
Xuất nguồn tư tưởng
* kinh Duy Ma Cật sở thuyết
* kinh Đại Bát Niết Bàn
* kinh Thủ Lăng Nghiêm
* Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
* Kinh Hoa Nghiêm 
III. KẾT LUẬN
I. NHẬP ĐỀ
vì chúng sanh đều có Phật tánh nên mỗi chúng sanh đều có khả năng để thành Phật là điều tất yếu. Việc thành Phật theo ngài Trúc Đạo Sinh cho rằng con người có thể thành Phật môt cách nhanh chóng, không qua thứ lớp, tức là “ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT”.
II. NỘI DUNG
1. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NGƯỜI ĐỀ XUẤT
Đạo Sanh (道 生, khoảng 360-434) là một Phật học gia lỗi lạc của Phật giáo Trung Hoa. Đại sư sinh tại Bành Thành, xuất gia và tu học với Trúc Pháp Thái (319-387) (1) tại Kiến Khương.
của Đạo Sanh qua việc ngài được đặt vào ngôi vị hàng đầu của "tứ kiệt" (4), đứng đầu Bát Hùng và Thượng thủ mười lăm đệ tử xuất chúng của La-thập.
Sư quan niệm rằng, bất cứ ai cũng có Phật tín, bất cứ ai cũng có thể thành Phật tức khắc “Đốn Ngộ Thành Phật”
Cũng trong thời gian này, Đạo Sanh xướng thuyết "Nhất-xiển-đề-ca cũng có Phật tánh"; Nhất-xiển-đề-ca (icchantikas) vốn là hạng người bị xem là hạ tiện không có tánh thể giác ngộ (tức Phật tánh) cho nên không thể đạt được giác ngộ
Đến năm 434, đại sư thị tịch trong lúc giảng pháp đến phần kết, vẫn trong tư thế ngồi, ứng với lời thề trong đại chúng về thuyết Nhất xiển đề cũng có Phật tánh.
Đối với Đạo Sinh thì 
Phật tính và tính Không chính là Niết-bàn, là trạng thái không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Đối với Sư, không có một Tịnh độ ngoài thế giới này vì chư Phật không hề rời chúng ta, luôn luôn ở trong ta.
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
Trúc Đạo Sanh đưa ra nguyên tắc trọng yếu trong nhận thức luận và phương pháp luận qua đoạn:
《高僧傳》卷7:「夫象以盡意。得意則象忘。言以詮理。入理則言息。自經典東流譯人重阻。多守滯文鮮見圓義。若忘筌取魚始可與言道矣。於是校閱真俗研思因果」(CBETA, T50, no. 2059, p. 366, c14-17)
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
Điều này Đức Phật cũng nói trong Kinh Pháp Hoa, ở phẩm Đề Bà Đạt Da, về việc nàng Long Nữ thành Phật nhanh chóng cho đến chư vị Bồ Tát và ngài Xá Lợi Phất không thể thấu xuốt được nguyên nhân.
“Ngài Văn-thù-sư-lợi nói:
- Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Ngài Trí Tích hỏi ngài Văn-thù-sư-lợi rằng:
- Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có, vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?
Ngài Văn-thù-sư-lợi nói:
- Có con gái của vua rồng Ta-kiệt-la mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí tuệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào Thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát-na phát tâm Bồ-đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ-đề.
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
Lúc đó, Long nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam thiên đại thiên đem dưng lên đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ-tát cùng Tôn giả Xá-lợi-phất rằng: - Tôi hiến châu báu, đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?
Đáp: - Rất mau.
Long nữ nói:
- Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.
Trí Tích Bồ-tát và ngài Xá-lợi-phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
Phẩm này nêu lên hai đặc điểm:
- Thứ nhất là bình đẳng giữa thiện và ác, kẻ ác người thiện ai cũng có Tri kiến Phật như nhau. Dù ác dù thiện một phen nhận ra Tri kiến Phật của chính mình thì thành Phật
Ở đây Phật thọ ký cho Đề-bà-đạt-đa thành Phật là để nói kẻ ác phạm tội ngũ nghịch như Đề-bà-đạt-đa vẫn có Tri kiến Phật, nếu thức tỉnh tu hành thì cũng thành Phật.
Thứ hai là bình đẳng giữa nam và nữ, giữa người và thú, người nam hay người nữ, kể cả súc sanh đều có Tri kiến Phật. Vì vậy mà Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng nói: “Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật.” Đó là để nói lên ý nghĩa này. Ai ai cũng có Tri kiến Phật, nhưng vì quên nên không nhận, vì vậy mà cứ luân hồi mãi trong sáu đường. Nếu nhận ra thì thành Phật, nên ở đây Long nữ khi nghe kinh Pháp Hoa liền tin nhận và thành Phật.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Trích Phẩm 12 “Đề Bà Đạt Đa” trong “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải”
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
Trong kinh Hoa Nghiêm có bài kệ quen thuộc ta hay tụng đọc:
“ nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thuyết duy tâm tạo”
《 大涅盘经集解》 卷一载:「 道生曰:『 夫真理自然, 悟亦冥符。 真则无差, 悟岂容易 ? 不易之体, 湛然常照, 但从迷乖之事, 未在我耳』 
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
隋硕法师 《 三论游意义》 载:「 竺道生师用大顿悟义也, 金刚以还皆是大梦 、 金刚以后皆是大觉也 
3. KHÁI NIỆM TRÊN NGÔN NGỮ VỀ ĐỐN NGỘ - PHẬT TÁNH
 a. Đối với đốn ngộ là tiệm ngộ
Tiệm Ngộ: Tiệm: dần dần. Tiệm ngộ là chứng ngộ dần dần, ví như lại gần đèn chừng nào thì sáng hơn chừng nấy.
Đốn ngộ:
Theo chữ hán thì ta có:
Theo tự điển Phật học, của nguyên hảo, nxb về nguồn, 1999, tr. 207
Đốn ngộ: SUDDEN ENLIGHTENMENT:
SUDDEN: đột ngột
ENLIGHTENMENT: giác ngộ
=> Giác ngộ đột ngột
Theo tự điển Thiều Chửu: Đốn: mau lẹ, tức thì; 6: đốn giáo: chữ trong kinh Phật: dùng một phương pháp tuyệt mầu khiến cho mình theo đó mà tu được tới đạo ngay.
3. KHÁI NIỆM TRÊN NGÔN NGỮ VỀ ĐỐN NGỘ - PHẬT TÁNH
Do đó ta có thể định nghĩa lại như sau:
- Đốn Ngộ: Tỉnh ngộ tức khắc. liền chứng ngộ Phật quả..
- Tiềm ngộ: là giác ngộ từng bậc, thứ cấp, rốt mới đến quả vị Phật gọi là giác hạnh viên mãn.
3. KHÁI NIỆM TRÊN NGÔN NGỮ VỀ ĐỐN NGỘ - PHẬT TÁNH
b. Đốn ngộ thành Phật:
Phật tánh ấy được chứng ngộ tức thì, không qua thứ lớp. 
Bởi Phật tánh vốn là thể tánh vạn pháp, bao trùm vạn pháp, nhưng không phải vạn pháp, mà cũng chẳng phải riêng một pháp nào.
4. NGỘ LÝ BẤT NHỊ, PHÙ HỢP LÝ BẤT PHÂN 
Tức siêu việt những mặt đối lập của thực tại vối chỉ tồn tại thế giới danh ngôn và khái niệm như: Sinh – Diệt, Nhiễm – Tịnh, Sinh Tử - Niết Bàn. 
Trong triệu luận sớ, ngài Huệ Dạt luận thuật về thuyết đốn ngộ của ngài Trúc Đạo Sanh:
慧达的 《 肇论疏》 中引有道生语:“ 夫称顿者, 明理不可分, 悟语照极。 以不二之悟, 符不分之理, 理智恚释, 谓之顿悟。 
4. NGỘ LÝ BẤT NHỊ, PHÙ HỢP LÝ BẤT PHÂN
Ở đây, chân lý Huyền diệu nhất không thể phân cắt. Ngộ là chứng ngộ, chứng đắc chân lý.
4. NGỘ LÝ BẤT NHỊ, PHÙ HỢP LÝ BẤT PHÂN
Chỗ này ta thấy không chỉ vô ngôn mà tâm cũng phải vắng bặc 2 phạm trù đối đãi, trong Kinh Kim Cang có nói: “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Tức là dùng tâm không dính mắc mà Ngộ Nhập Phật đạo. 
Hơn nữa, mọi giai đoạn trên đường dẫn đến mục đích, mọi ý tưởng hoặc tiến trình cụ thể nào, dù nó có thể hữu ích như là phương tiện, đều chỉ là đối đãi với nghĩa chân thật rốt ráo, và do vậy, nó có khuynh hướng ngăn ngại mục tiêu tối hậu. Ý nghĩa cuộc đời, hoặc gọi là Lý, còn gọi là thành Phật, không thể nào bị cắt thành từng số mục, nó chỉ có thể được nhận ra một cách trọn vẹn hoặc là không có được cái gì cả.
5. KIẾN GIẢI VỚI VĂN GIẢI
Trúc Đạo Sanh lấy kiến giải có chỗ được lý Phật thâm sâu cho là Ngộ, tri thức có chỗ được qua học tập và nghe hiểu gọi là Tín. Tín không phải hiểu biết cùng tận đạt đến bản nguyện mà là một cách ngộ, đạt đến Đốn Ngộ. Văn Giải là rớt (tạ) mà không khởi tác dụng, giống như trái cây chín rồi từ trên cây rớt xuống. Ngộ giải không tự nhiên sản sanh, cần phải gia tăng tri thức không ngừng, dựa vào sự tiệm tu không ngừng 
5. KIẾN GIẢI VỚI VĂN GIẢI
Trúc Đạo Sanh không đơn giản phủ định tri thức đạt được qua thấy nghe, còn đốn ngộ cũng cần dựa vào tiệm tu 
Ngài phân ra: Kiến giải và Văn giải; Ngộ và Tín; Đốn ngộ và Tiệm tu được kiến lập từ nền tảng, lý bất khả phân ở Bát nhã học và trực chỉ tâm tính ở niết bàn học. 
6. TẠ LINH VẬN – NĂNG CHÍ VỚI NHẤT CỰC
Thuyết Đốn Ngộ của Tạ Linh Vận chủ yếu xiển dương ý nghĩa lý bất khả phân của Trúc Đạo Sanh, có đặc sắc chiết trung Nho Phật:
《廣弘明集》卷18:「釋氏之論。聖道雖遠積學能至。累盡鑒生[22]方應漸悟。孔氏之論。聖道既妙。雖顏殆庶體無鑒周。理歸一極。有新論道士以為。寂鑒微妙不容階級。積學無限何為自絕。今去釋氏之漸悟而取其能至。去孔氏之殆庶而取其一極。一極異漸悟能至非殆庶。故理之所去雖合各取。然其離孔釋矣。余謂二談救物之言。道家之唱得意之說」(CBETA, T52, no. 2103, p. 224, c29-p. 225, a8)
6. TẠ LINH VẬN – NĂNG CHÍ VỚI NHẤT CỰC
Thuyết Thể Vô của nho giáo thực tế là của Vương Bộc thời Ngụy nói về thể vô của Khổng Tử, thuyết Đốn Ngộ Thành Phật là phương pháp thành Phật cực nhanh, ảnh hưởng lớn trong tư tưởng Phật giáo Trung Quốc, đây là lần đầu tiên và người đầu tiên xiển dương học thuyết này.
6. TẠ LINH VẬN – NĂNG CHÍ VỚI NHẤT CỰC
Tiểu sử của Tạ Linh Vận:
Tạ Linh Vận (385-433, tự là Khương Lạc 康樂). Xuất thân từ huyện Trần, Đông Nam tỉnh Hồ Nam, nhưng thừa hưởng một vùng đất tại Thủy Ninh, vùng Cối Kê (會稽), nên ông thườ  ng nói vùng đất nầy như là quê hương mình. Ông làm quan dưới triều Lưu Dự, người lập nên triều Tống năm 420. Lưu Dự và các quan tùy tùng đều thán phục thiên tài văn chương của ông và phần nhiều thất vọng khi vua dùng ông như một nhà thơ tài ba vì ông có tham vọng cao hơn. 
Ông gặp ngài Huệ Viễn lần đầu năm 412 (có lẽ còn sớm hơn). Ở kinh đô, ông thường giao du với những người tân Lão giáo thường tụ tập quanh Thái tử Lô Lăng (ct. 54), nơi ông gặp được Nhan Đình Chi (顔延之) (ghi chú 56) và Huệ Lâm, nhà cải cách Phật giáo (ghi chú 53) 
Về mối quan hệ riêng giữa Tạ Linh Vận và Trúc Đạo Sinh chúng ta không biết được gì nhiều . Năm 422, Tạ Linh Vận phái qua Vĩnh Gia, ở đó ông viết nhiều thư và sau được sưu tập trong Biện Tông Luận 
6. TẠ LINH VẬN – NĂNG CHÍ VỚI NHẤT CỰC
Đến năm 426, quan nhiếp chính bị Văn Đế giết, một hướng mới mở ra cho ông những hấp dẫn mà ông không thể từ chối. Văn Đế rất quan tâm đến tư tưởng đạo Phật và tân Lão giáo; vua nhiều lần gọi ông về triều và đối xử với ông rất tốt, dù Tạ Linh Vận đã nhiều lần tự nhủ với mình rằng đừng nên hy sinh sự tự do cá nhân của mình cho sự ưa thích của một ông vua 
Năm 443, các kẻ thù của ông lại tìm để giết hại ông, ‘thi thể bị ném ra đường’ như đã ghi chép. Tống sử, 67, Tang, History pp. 436-440, 627 ff., 663-666.
7. NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI VIẾT - về nguồn tư tưởng
* kinh Duy Ma Cật sở thuyết
* kinh Đại Bát Niết Bàn
* kinh Thủ Lăng Nghiêm
* Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
* Kinh Hoa Nghiêm 
* kinh Duy Ma Cật sở thuyết
Phật quốc là cõi nước Phật. Nói cách khác là cảnh giới của con người tỉnh thức hoàn toàn và giác ngộ chân lý trọn vẹn…. Cõi nước Phật ở tại tâm người. Con người dứt hết các vô minh phiền não, tâm người sáng suốt giác ngộ chân lý trọn vẹn và sống đúng chân lý thì tâm đó là Phật. Người có tâm Phật ở đâu thì cõi nước đó trở thành cõi nước Phật là Phật quốc.
- Lý bất nhị: Chương chin, Chứng Nhập Pháp Môn Bất Nhị, trang 222: 
Duy ma hỏi Văn Thù về Bất Nhị:
Văn thù đáp: sanh và diệt là hai. Vạn pháp xưa không sanh, nay không diệt tỏ ngộ được pháp thân vô sanh đó, tôi thể nhập Pháp môn bất nhị
….. ngã và ngã sỡ… thọ và bất thọ …. Cấu và tịnh …. Động tâm và niệm tưởng….
Văn Thù: Xin nhân giả cho biết cao kiến của Ngài về phương pháp thể nhập Pháp Môn Không hai của một Bồ Tát?
Ông Duy Ma lúc bấy giờ điềm nhiên an tọa. Đại chúng cả hội trường nín thở trông chờ … Ông Duy Ma vẫn im lặng và im lặng…
Văn Thù: Siêu tuyệt thay! Siêu tuyệt! Pháp Môn Không Hai siêu tuyệt! vắng bặc cả văn tự ngữ ngôn.
* kinh Đại Bát Niết Bàn
Nói về Phật tánh:
Ngã đồng nghĩa với Như Lai Tàng. Như Lai Tàng đồng nghĩa với Phật Tánh. Tất cả chúng sanh đều  có Phật tánh ấy. Do vậy, trong 25 cõi đều có Ngã. Ngã hay Phật Tánh là cái vốn có của chúng sanh trong 25 cõi; vậy mà từ lâu chúng sanh bị vô minh phiền não ngăn che lấp kín nên không nhận biết.
* kinh Đại Bát Niết Bàn
Nói về Bất Nhị 
là Đệ tử Phật, người có trí phải học nghĩa Trung Đạo trong Phật pháp, mới vượt ra phạm trù đối đãi: Hữu – Vô, Thường – Đoạn… nguyên nhân của mọi vướng mắc khổ đau.
* kinh Thủ Lăng Nghiêm
Nói về trạng thái mê và ngộ: Phú Lâu Na! người được đạo Bồ Đề ví như người tỉnh giấc, kể chuyện trong chiêm bao. Tâm ghi nhớ rõ rang nhưng không sao lấy vật trong chiêm bao ra được; huống chỉ cái mê vốn không, không nhân, không gì cả thì tìm sao cho nó có cội nguồn.
* Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Trước khi nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì Phật vì các hang Bồ Tát nói kinh Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Có nghĩa là muốn hiểu được kinh Pháp Hoa thì trước hết phải chuẫn bị vô lượng nghĩa; điều này đồng nhất với muốn liễu ngộ được Phật tánh thì phải vượt qua được lý Bất Nhị, vượt ngoài ngôn ngữ, mà là thật tướng các pháp. Chỉ có tâm Phật mới hiểu nổi mà thôi. 
* Kinh Hoa Nghiêm 
có bài kệ: 
Nhược nhơn dục liễu tri, 
Tam thế nhất thiết Phật
Ứng quán pháp giới tánh
Nhứt thiết duy tâm tạo.
7. NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI VIẾT - về nguồn tư tưởng
Tư tưởng đốn ngộ thành Phật đã có tư tưởng từ thời Phật. Trúc Đạo Sanh là người hệ thống lại và cho ra một từ ngữ mới, ứng hợp với đất nước mình, với tư tưởng của người dân
III. KẾT LUẬN
Đốn ngộ thành Phật, thành tựu Phật tánh một cách nhanh chóng, không qua thứ lớp, mà tức thì viên mãn thể tánh của Phật.
Mọi người đều có thể học, thực hành theo hạnh của Phật, và có khả năng thành phật. bởi vì “ Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”.
NAM MÔ HOAN HỶ TẠNG BỒ TÁT MA HA TÁT
TỔ 4 XIN HOÀN THÀNH BÀI THUYẾT TRÌNH TẠI ĐÂY

KÍNH CHÚC TOÀN THỂ VÔ LƯỢNG AN LẠC - VÔ LƯỢNG KIẾT TƯỜNG

THUYẾT ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT CỦA NGÀI TRÚC ĐẠO SANH


1. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NGƯỜI ĐỀ XUẤT
Đạo Sanh ( , khoảng 360 434) là một Phật học gia lỗi lạc của Phật giáo Trung Hoa. Đại sư sinh tại Bành Thành, xuất gia và tu học với Trúc Pháp Thái (319 387) (1) tại Kiến Khương. Khoảng năm 405 hoặc 406, sau khi trú tại Lô Sơn của Tuệ Viễn ( ) (2) chừng 7 năm, Đạo Sanh bèn vân du đến Trường An (3) để theo học với Cưu ma La thập (Kumàrajìva, 344 413). Đại sư La thập bấy giờ đã ở đó từ năm 401, với hơn 3 ngàn đệ tử quy tụ dưới trướng để tham học giáo nghĩa Đại thừa. Nhưng Đạo Sanh chỉ ở Trường An một thời gian ngắn, chỉ có 2 năm mà thôi. Thế nhưng, tuy thời gian kể như quá ngắn đó, cũng đủ để biểu lộ tài năng của Đạo Sanh qua việc ngài được đặt vào ngôi vị hàng đầu của "tứ kiệt" (4), đứng đầu Bát Hùng và Thượng thủ mười lăm đệ tử xuất chúng của La thập.
Cũng trong thời gian này, Đạo Sanh xướng thuyết "Nhất xiển đề ca cũng có Phật tánh"; Nhất xiển đề ca (icchantikas) vốn là hạng người bị xem là hạ tiện không có tánh thể giác ngộ (tức Phật tánh) cho nên không thể đạt được giác ngộ. Xướng thuyết này của Đạo Sanh gặp phản ứng và gây tranh luận dữ dội trong giới Phật học đương thời. Tư tưởng táo bạo mới mẻ này khiến Đạo Sanh bị trục xuất khỏi đạo tràng Kiến Khương vào năm 428 (hoặc 429); Đại sư bèn vân du đó đây cho đến năm 430 thì về đến Lô Sơn lần nữa.
Sau đó không lâu thì toàn bản kinh Niết Bàn được Đàm Vô Sấm (còn gọi là Đàm Vô Sám, Dharmarakshema, 385 433 hay 436) dịch hoàn tất vào năm 421 tại miền Bắc và lưu truyền đến Nam; bấy giờ người ta mới thán phục thần ngộ và viễn kiến sâu sắc của Đạo Sanh. Đạo tràng Kiến Khương vội cung thỉnh Đại sư trở về, nhưng ngài vẫn ở lại Lô Sơn, hoàn tất bản sớ giải kinh Pháp Hoa năm 432. Đến năm 434, đại sư thị tịch trong lúc giảng pháp đến phần kết, vẫn trong tư thế ngồi, ứng với lời thề trong đại chúng về thuyết Nhất xiển đề cũng có Phật tánh.
Đối với Đạo Sinh thì Phật tính trong Đại bát niết bàn kinh và tính Không trong kinh Bát nhã ba la mật đa chỉ là một: cả hai đều vô tướng, vô tính. Phật tính và tính Không chính là Niết bàn, là trạng thái không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Đối với Sư, không có một Tịnh độ ngoài thế giới này vì chư Phật không hề rời chúng ta, luôn luôn ở trong ta.
Đạo Sinh có nhiều quan điểm cách mạng so với thời bấy giờ, góp công rất lớn thúc đẩy sự phát triển của nền Phật giáo Trung Quốc. Sư quan niệm rằng, bất cứ ai cũng có Phật tính, bất cứ ai cũng có thể thành Phật tức khắc “Đốn Ngộ Thành Phật”. Sư có công tổng hợp hai bộ kinh Đại bát niết bàn và Bát nhã ba la mật đa. Ngày nay các tác phẩm của Sư đã thất lạc, người ta chỉ tìm thấy quan điểm của Sư rải rác trong các bộ luận
2. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT
Trúc Đạo Sanh đưa ra nguyên tắc trọng yếu trong nhận thức luận và phương pháp luận qua đoạn:
《高僧傳》卷7:「夫象以盡意。得意則象忘。言以詮理。入理則言息。自經典東流譯人重阻。多守滯文鮮見圓義。若忘筌取魚始可與言道矣。於是校真俗研思因果」(CBETA, T50, no. 2059, p. 366, c14 17)
Cao tăng truyền quyển 7: “phu tượng dĩ tận ýĐắc ý tắc tượng vongNgôn dĩ thuyên lýNhập lý tắc ngôn tứcTự kinh điển đông lưu dịch nhân trọng trởĐa thủ trệ văn tiển kiến viên nghịNhược vong thuyên thủ ngư thủy khả dữ ngôn đạo hĩƯ thị hiệu duyệt chân tục nghiên tư nhân quả” .
phù hiệu để đạt ý, tức nương nơi “tượng” đạt được ý nghĩa. Khi đạt được ý nghĩa, thể nhập chân lý nên bỏ đi phù hiệu và ngôn ngữ.
Dịch là: xét hình thì phải rõ ý đặng ý thì phải quên hình. Lời nói thì phải rõ được lý đặng lý thì phải quên lời. Kể từ khi kinh điển truyền sang Đông độ, người Trung hoa trong lúc phiên dịch gặp không ít trở ngại, phần nhiều trệ vào văn chương mà ít làm sáng tỏ nghĩa lý, bằng quên nơm đặng cá thì lời nói mới có thể hợp với đạo.
Trên nền tảng của nguyên tắc tư tưởng này, tiến thêm một bước để thành lập Thuyết Đốn Ngộ Thành PhậtTức là thuyết Thành Phật một cách nhanh chóng, không qua thứ lớp nên gọi là đốn, khác vơi tiệm là thứ lớp.
Điều này Đức Phật cũng nói trong Kinh Pháp Hoa, ở phẩm Đề Bà Đạt Da, về việc nàng Long Nữ thành Phật nhanh chóng cho đến chư vị Bồ Tát và ngài Xá Lợi Phất không thể thấu xuốt được nguyên nhân.
“Ngài Văn thù sư lợi nói:
  Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Ngài Trí Tích hỏi ngài Văn thù sư lợi rằng:
  Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có, vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?
Ngài Văn thù sư lợi nói:
  Có con gái của vua rồng Ta kiệt la mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí tuệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào Thiền định, rõ thấu các pháp. Trong khoảnh sát na phát tâm Bồ đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ đề.
Trí Tích Bồ tát nói rằng:
  Tôi thấy đức Thích ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ đề chưa từng có lúc thôi dứt, ta xem trong cõi tam thiên đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hột cải, mà không phải là chỗ của Bồ tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới được thành đạo Bồ đề. Chẳng tin Long nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc Chánh giác.
Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long vương bỗng hiện ra nơi trước, đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng:
Thấu rõ tướng tội phước
Khắp soi cả mười phương
Pháp thân tịnh vi diệu
Đủ ba mươi hai tướng
Dùng tám mươi món tốt
Để trang nghiêm Pháp thân
Trời, người đều kính ngưỡng
Long thần thảy cung kính
Tất cả loài chúng sanh
Không ai chẳng tôn phụng
Lại nghe thành Bồ đề
Chỉ Phật nên chứng biết
Tôi nói pháp Đại thừa
Độ thoát khổ chúng sanh.
GIẢNG:
Ở đây không những nam tử được Bồ tát Văn thù giáo hóa cho thành Phật, mà hàng nữ nhi như Long nữ cũng được độ thành Phật. Long nữ chẳng những mang thân nữ lại còn là loài rồng mới có tám tuổi, mà nói thành Phật thì Bồ tát Trí Tích không tin. Tại sao? Vì Trí Tích là trí do huân tập. Bởi do huân tập được, nên chỉ biết tu mà được thành Phật. Thành Phật là phải trải qua vô lượng kiếp hành Bồ tát đạo, như lời Phật Thích ca kể lại tiền thân của Ngài. Bây giờ nói Long nữ, vừa là nữ, vừa là thú, vừa là nhỏ mà thành Phật, thì làm sao tin được? Nên với Bồ tát Trí Tích, Ngài không thể tin. Còn Bồ tát Văn thù là Căn bản trí, biết rõ tất cả chúng sanh đều có sẵn Tri kiến Phật, nếu căn tánh lanh lợi khi được khai thị, tin nhận và hằng sống với Tri kiến Phật là thành Phật, bất luận là nam hay nữ, lớn hay nhỏ, người hay thú.
CHÁNH VĂN:
  Bấy giờ, ngài Xá lợi phất nói với Long nữ rằng:
  Người nói không bao lâu chứng được đạo Vô thượng, việc đó khó tin. Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành Vô thượng Chánh giác? Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: một, chẳng được làm Phạm thiên vương; hai, chẳng được làm Đế Thích; ba, chẳng được làm Ma vương; bốn, chẳng được làm Chuyển Luân Thánh vương; năm, chẳng được làm Phật. Thế nào thân gái được mau thành Phật?
Lúc đó, Long nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi tam thiên đại thiên đem dưng lên đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ tát cùng Tôn giả Xá lợi phất rằng: 
  Tôi hiến châu báu, đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?
Đáp:
  Rất mau.
Long nữ nói:
  Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.
Đương lúc đó cả chúng hội đều thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, liền qua cõi Vô cấu ở phương Nam ngồi tòa sen báu thành bậc Đẳng chánh giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sanh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu.
Khi ấy, trong cõi Ta bà hàng Bồ tát, Thanh văn, trời, rồng, bát bộ, nhân cùng phi nhân đều xa thấy Long nữ thành Phật khắp vì hàng nhân thiên trong hội đó mà nói pháp, sanh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sanh nghe pháp tỏ ngộ được bất thối chuyển, vô lượng chúng sanh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô cấu sáu điệu vang động, cõi Ta bà ba nghìn chúng sanh trụ bậc Bất thối, ba nghìn chúng sanh phát lòng Bồ đề mà được lãnh lời thọ ký.
Trí Tích Bồ tát và ngài Xá lợi phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.
GIẢNG:
Không riêng gì Bồ tát Trí Tích không tin Long nữ sẽ thành Phật mà cả Tôn giả Xá lợi phất cũng không tin. Ngài nêu lên năm điều mà nữ giới không thể làm được, là Phạm thiên vương, Đế Thích, Ma vương, Chuyển Luân Thánh vương, Phật. Thông thường những người tu hành có liên hệ tình cảm với phái nữ, nửa chừng cởi áo tu ra đời thì bấy giờ người nữ ấy bị coi như ma nữ, phá hại người tu hành. Ở đây nói nữ giới không thể làm Phạm thiên, Đế Thích, Chuyển Luân Thánh vương, cho đến Ma vương cũng không làm được. Tại sao chê phái nữ quá vậy? Như trước đã nói, tuy Tôn giả Xá lợi phất đã được thọ ký, nhưng Ngài còn quen cái nhìn theo nghiệp tướng, thấy người nữ nghiệp nặng hơn người nam, nên không thể làm Phạm thiên, Đế Thích... Vì nhìn trên nghiệp tướng nên thấy người nữ khó tu hơn người nam.
Long nữ dâng hạt châu lên Phật để cúng dường, có nghĩa là trình sự tin nhận Tri kiến Phật. Giống như trình sở ngộ để Phật Tổ ấn chứng cho chỗ tin, thấy của mình là không sai. Việc thành Phật của Long nữ nhanh hơn việc dâng châu lên Phật.
Bấy giờ trong chúng hội đều thấy Long nữ thoạt biến thành nam tử đầy đủ công hạnh Bồ tát, liền qua cõi Vô cấu thành Phật thuyết pháp. Ngài Trí Tích thuộc hàng Bồ tát, Tôn giả Xá lợi phất thuộc hàng Thanh văn, cả hai đều là bậc trí tuệ. Nhưng trí tuệ của hai Ngài do huân tập, còn hạn cuộc trong vòng tương đối nên còn thấy theo nghiệp tướng, vì vậy mà không thể tin Long nữ thành Phật. Căn cứ trên nghiệp tướng thì thân nam nữ có sai biệt, nhưng Tri kiến Phật sẵn có nơi mỗi người thì không khác. Hơn nữa Tri kiến Phật không có nam nữ đối đãi, vì không có nam nữ đối đãi nên ai nhận ra Tri kiến Phật thì thành Phật, bất luận nam hay nữ, không nhận được thì không thành Phật.
Phẩm này nêu lên hai đặc điểm:
  Thứ nhất là bình đẳng giữa thiện và ác, kẻ ác người thiện ai cũng có Tri kiến Phật như nhau. Dù ác dù thiện một phen nhận ra Tri kiến Phật của chính mình thì thành Phật. Chẳng hạn đồ tể Quảng Ngạch ngộ được lý đạo liền nói: “Hôm qua tâm dạ xoa, ngày nay mặt Bồ tát, dạ xoa và Bồ tát, chỉ cách một đường tơ.” Ở đây Phật thọ ký cho Đề bà đạt đa thành Phật là để nói kẻ ác phạm tội ngũ nghịch như Đề bà đạt đa vẫn có Tri kiến Phật, nếu thức tỉnh tu hành thì cũng thành Phật.
  Thứ hai là bình đẳng giữa nam và nữ, giữa người và thú, người nam hay người nữ, kể cả súc sanh đều có Tri kiến Phật. Vì vậy mà Bồ tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng nói: “Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật.” Đó là để nói lên ý nghĩa này. Ai ai cũng có Tri kiến Phật, nhưng vì quên nên không nhận, vì vậy mà cứ luân hồi mãi trong sáu đường. Nếu nhận ra thì thành Phật, nên ở đây Long nữ khi nghe kinh Pháp Hoa liền tin nhận và thành Phật.
  Phẩm kinh này dạy cho chúng ta một lối nhìn bình đẳng, dù là người thiện hay ác, đều thấy như nhau, đối với người ác, không khinh thường, không ác cảm, dù là người nam hay nữ cũng thấy như nhau, vì ai ai cũng có Tri kiến Phật. Dù là người hay thú, tất cả đều có Tri kiến Phật nên không nỡ hại nhau. Nếu tin nhận được thì công đức vô lượng.
Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Trích Phẩm 12 “Đề Bà Đạt Đa” trong “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải”
Trong kinh Hoa Nghiêm có bài kệ quen thuộc ta hay tụng đọc:
“ nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thuyết duy tâm tạo”
Ví dụ: nắm tay và buôn tay đều do ta. Phiền não hay thanh tịnh đều do ta chứ không ai. Mê ngộ cũng thế. Xã ly hay chấp đều do ta.
đại niết bàn kinh tập giải quyển nhất tái:đạo sanh viết phu chân lý tự nhiên, ngộ  diệc minh phùChân tắc vô saingộ khởi dung dịBất dịch chi thể, trạm nhiên  thường chiếuđãn tùng mê quai chi sựvị tại ngã nhĩ
Tùy Thạc Pháp Sưtam luận du ý nghĩa tái Trúc Đạo Sanh sư dụng đại đốn ngộ nghị dãkim cương dĩ hoàn giai thị đại mộngkim cương dĩ hậu giai thị đại giác dã
3. KHÁI NIỆM TRÊN NGÔN NGỮ VỀ ĐỐN NGỘ   PHẬT TÁNH
    a. Đối với đốn ngộ là tiệm ngộ
Tiệm Ngộ: Tiệm: dần dần. Tiệm ngộ là chứng ngộ dần dần, ví như lại gần đèn chừng nào thì sáng hơn chừng nấy.
Đốn ngộ:
Theo chữ hán thì ta có:
Theo tự điển Phật học, của nguyên hảo, nxb về nguồn, 1999, tr. 207
Đốn ngộ: SUDDEN ENLIGHTENMENT:
SUDDEN: đột ngột
ENLIGHTENMENT: giác ngộ
=> Giác ngộ đột ngột
Theo tự điển Thiều Chửu: Đốn: mau lẹ, tức thì; 6: đốn giáo: chữ trong kinh Phật: dùng một phương pháp tuyệt mầu khiến cho mình theo đó mà tu được tới đạo ngay.
Do đó ta có thể định nghĩa lại như sau:
  Đốn Ngộ: Tỉnh ngộ tức khắc. liền chứng ngộ Phật quả..
  Tiềm ngộ: là giác ngộ từng bậc, thứ cấp, rốt mới đến quả vị Phật gọi là giác hạnh viên mãn.
Phật giáo trọng tâm hướng dẫn mọi người theo đường giải thoát, thập phần đều là có phương pháp, thứ lớp tu hành( 7 trạm xe, 16 tầng tuệ), đối với kiến đạo tu đạo đều có quy định thứ lớp cụ thể, làm nên hệ thống tu hành thứ lớp thật nghiêm mật hoàn chỉnh. Đối với tu hành thứ lớp này các phái Phật giáo có quan điểm không giống nhau nhưng đều chủ trương Tiệm Ngộ. Như Kinh Hoa Nghiêm nói về Thập địa Bồ Tát và dần mới lên đến đại giác ngộ Phật quả.
Phẩm Thập địa quy định như trên, nhưng các vị Đại sư Phật giáo Trung Quốc lý giải không giống nhau, như Đông Tấn Thanh đàm danh tăng Chi Đạo Lâm cho rằng Thập địa là một quá trình Tiệm ngộ, tu hành đến Thất địa chủ trương chứng ngộ triệt để toàn thể chân lý chân như thật tướng được người sau gọi là Thuyết Tiểu Đốn Ngộ. Nơi hay còn gọi là Phần giác, tức giác ngộ từng phần.
b. Đốn ngộ thành Phật:
NHẤT THIẾT CHÚNG SANH GIAI HỮU PHẬT TÁNH( KINH ĐAI BÁT NIẾT BÀN)
Phật tánh vốn dĩ là tròn sáng viên dung không khuyết một, thuần khiết, và ta chỉ có thể chứng ngộ thì, mới được gọi là Phật được, mới hiểu hết được Phật tánh, đây cũng là ý của Trúc Đạo Sanh. Phật tánh ấy được chứng ngộ tức thì, không qua thứ lớp. Muốn chứng ngộ liền chứng ngộ, không muốn thì không chứng. Bởi Phật tánh vốn là thể tánh vạn pháp, bao trùm vạn pháp, nhưng không phải vạn pháp, mà cũng chẳng phải riêng một pháp nào.
Phật tánh, vượt ngoài ngôn ngữ diễn tả, ngôn ngữ diễn tả chỉ giống như ngon tay chỉ mặt trăng, ngon tay là ngón tay không phải mặt trăng, người muốn biết mặt trăng thế nào thi chỉ có nhìn mặt trăng thì mới biết mặt trăng thế nào thôi. Cho nên ngôn ngữ chỉ làm phương tiện quy ước cho một số vấn đề nào đó thôi. Không thể diễn tả hết nội hàm của một sự vật sự việc được.
4. NGỘ LÝ BẤT NHỊ, PHÙ HỢP LÝ BẤT PHÂN
Để nhận thức được thực tại chân thực, chúng ta cần đi qua cửa Bất Nhị: tức tù nhần thức thực tại sai biệt mà khám phá ra thực tại tối hậu là tuyệt đối ngay trong các tồn tại sai biệt. Tức siêu việt những mặt đối lập của thực tại vối chỉ tồn tại thế giới danh ngôn và khái niệm như: Sinh – Diệt, Nhiễm – Tịnh, Sinh Tử   Niết Bàn.
Thực tại tôi hậu là tuyệt đối thể, nguyên lai là chỉnh thể thống nhất của 2 thái cực mâu thuẩn biện chứng.
Nguyên lý bất nhị không thủ tiêu các mặt đối lập và mâu thuẩn của hiện thực để cho nhận thức đối diện một thế giới trống rỗng, hư vô(ta thấy chỗ cầu đạo của Huệ Khả). Nguyên lý bất nhị dung hợp 2 mặt đối lập và mâu thuẫn của hiện thực thành một thể tuyệt đối. Nhưng tuyệt đối thể không được nhận thức trong từng hiện thực sai biệt, vã lại ngoài nhận thức sai biệt cũng không thể nhận thức được tuyệt đối.
Nguyên lý bất nhị đẩy nhận thức diễn qua nhiều đợt khủng hoảng, để rồi cuối cùng đạt chân nhận thức trước, hay trong một thực tại vô ngôn hoàn toàn im lặng, vắng bặc.
Trong triệu luận sớ, ngài Huệ Dạt luận thuật về thuyết đốn ngộ của ngài Trúc Đạo Sanh:
“phu xưng đốn giảminh lý bất khả phânngộ ngữ chiếu cựcDĩ bất nhị chi ngộ, phù  bất phân chi lý, lý trí khuể thíchvị chi đốn ngộ
Ở đây, chân lý Huyền diệu nhất không thể phân cắt. Ngộ là chứng ngộ, chứng đắc chân lý.
Chúng ta thấy, trong truyền thống triết học Trung Quốc, do bị ảnh hưởng của phạm trù và phương thức tư duy, Trúc Đạo Sanh là người đầu tiên dùng Lý để trình bày khái niệm căn bản Đốn Ngộ Thành Phật. Theo ngài, Lý không thể phân, người Trung Quốc khéo ngộ lý có thể Đốn Ngộ. Ngài nhận thấy, chỗ sai của Thuyết tiệm ngộ chính là đem cái chân lý trọn vẹn bất khả phân ấy phân cắt ra, sau đó giải ngộ, chứng từng phần, như thế phá hoại tính hoàn chỉnh của chân lý, khó  quán sát, khó chứng ngộ trọn vẹn chân lý, không thể hợp cùng chân lý.
Ví dụ: cái nhà
Như thế nào được gọi là cái nhà? Dù cho ta nói rằng cột – kèo – vách … công sức con người tập hợp cái này thành cái nhà. Thì nếu ta tập hợp cái đó để đống lại thì cái nhà ở chỗ nào? Cho nên ta không thể phân thế này là cái nhà, thê kia là cái nhà. Vì bởi hạn cuộc của ngôn ngữ. Muốn biết cái nhà thì ta chỉ cần nhận ra được: À đây là cái nhà.
Việc chứng ngộ cũng thế. Siêu thoát ngoài 2 mặt phạm trù đối đãi, mà ta chỉ phương tiện tạm dùng mà thôi.
Chỗ này ta thấy không chỉ vô ngôn mà tâm cũng phải vắng bặc 2 phạm trù đối đãi, trong Kinh Kim Cang có nói: “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Tức là dùng tâm không dính mắc mà Ngộ Nhập Phật đạo.
Hơn nữa, mọi giai đoạn trên đường dẫn đến mục đích, mọi ý tưởng hoặc tiến trình cụ thể nào, dù nó có thể hữu ích như là phương tiện, đều chỉ là đối đãi với nghĩa chân thật rốt ráo, và do vậy, nó có khuynh hướng ngăn ngại mục tiêu tối hậu. Ý nghĩa cuộc đời, hoặc gọi là Lý, còn gọi là thành Phật, không thể nào bị cắt thành từng số mục, nó chỉ có thể được nhận ra một cách trọn vẹn hoặc là không có được cái gì cả.
Giải thích của Ðại sư Trí Khải, Duy Ma Kinh huyền sớ, dẫn chứng phẩm 7 "Quán chúng sinh": "Ðối với hạng người tăng thượng mạn, Phật nói diệt trừ dâm, nộ, si là giải thoát. Với hạng người không tăng thượng mạn, Phật nói thể tính của dâm, nộ, si chính là giải thoát." Và Ðại sư nêu ý kiến: "Thể tính dâm, nộ, si là chân tính bất tư nghị, lấy giải thoát làm thể."
Chúng ta thấy, trong kinh Duy Ma Cật, ngài Duy Ma Cật phê phán tất cả giáo pháp không chỉ của Thanh văn, mà còn luôn cả Ðại thừa; dù rằng các giáo pháp ấy được tin tưởng là do chính đức Thích Tôn đã thuyết giảng. Nhưng rồi, như chúng ta sẽ thấy trong chính văn, sự phê phán của Duy Ma Cật không có tác dụng đả kích và bác bỏ, mà là lật ngược các điểm giáo pháp để có thể nhìn rõ những hàm ẩn dưới nhãn quang khác. Tuy khẳng định, "Tính thể của tham dục, sân hận và si mê chính là giải thoát", nhưng khi hiện bịnh, Duy Ma Cật ứng dụng sự hiện bịnh ấy như là phương tiện thực tiễn để diễn giải cho các cư sĩ tại gia về bản chất của tồn tại: "Này các nhân giả, thân này là vô thường; là pháp yếu ớt, không chắc thật, chóng mục rữa... Thân này vốn như huyễn, từ phiền não sinh. Thân này vốn như mộng, được nhìn thấy do hư vọng... Thân này như rắn độc, như kẻ thù, như một đống rỗng không..." Nếu nhìn trên lý luận hình thức, hai đoạn văn vừa dẫn hoàn toàn mâu thuẫn nhau. Nhưng nếu bằng lý luận biện chứng siêu nghiệm của Kinh điển Bát Nhã thì cả hai đều là một thực tại tuyệt đối bất nhị.
5. KIẾN GIẢI VỚI VĂN GIẢI
Kiến giải chỉ có thể ngộ độc lập với Phật lý, hiển phát chân lý. “văn giải” chỉ tri thức có được qua văn huệ. Như thế, Trúc Đạo Sanh lấy kiến giải có chỗ được lý Phật thâm sâu cho là Ngộ, tri thức có chỗ được qua học tập và nghe hiểu gọi là Tín. Tín không phải hiểu biết cùng tận đạt đến bản nguyện mà là một cách ngộ, đạt đến Đốn Ngộ. Văn Giải là rớt (tạ) mà không khởi tác dụng, giống như trái cây chín rồi từ trên cây rớt xuống. Ngộ giải không tự nhiên sản sanh, cần phải gia tăng tri thức không ngừng, dựa vào sự tiệm tu không ngừng. Muốn dùng niềm tin và sự tu trì theo Phật giáo để khắc phục chế ước sự mê loạn của tư tưởng, hành vi mỗi cá nhân, bỏ đi phiền não, sau cùng đốn ngộ giải thoát. Qua đây thấy rằng, ngài Trúc Đạo Sanh không đơn giản phủ định tri thức đạt được qua thấy nghe, còn đốn ngộ cũng cần dựa vào tiệm tu. Theo thức lớp tu hành là một phương pháp mà Đức Phật dạy cho chúng sanh dể dàng hiểu rõ và tiếp thu để những người có niềm tin như thế không ngừng tinh tấn và nỗ lực không phải đem cảnh giới phân thành nhiều tầng thứ. Giai đoạn tiệm ngộ và cảnh giới thành Phật không giống nhau hoàn toàn, ngài phân ra: Kiến giải và Văn giải; Ngộ và Tín; Đốn ngộ và Tiệm tu được kiến lập từ nền tảng, lý bất khả phân ở Bát nhã học và trực chỉ tâm tính ở niết bàn học.
6. TẠ LINH VẬN – NĂNG CHÍ VỚI NHẤT CỰC
Thuyết Năng chí với Nhất cực:
Thuyết Đốn Ngộ của Trúc Đạo Sanh được nhà thơ Tạ Linh Vận( 385 – 433) hết lòng ủng hộ. Tạ Linh Vận rất tin giáo lý nhà Phật, khi ở Nam Kinh ông thường giao lưu với Trúc Đạo Sanh, biện luận vấn đề Đốn Ngộ, căn bản không chỉ quan điểm khế hợp về vấn đề đốn tiệm ngộ tồn tại mà còn phát huy ý nghĩa đốn ngộ của Trúc Đạo Sanh.
Thuyết Đốn Ngộ của Tạ Linh Vận chủ yếu xiển dương ý nghĩa lý bất khả phân của Trúc Đạo Sanh, có đặc sắc chiết trung Nho Phật:
《廣弘明集》卷18:「釋氏之論。聖道雖遠積學能至。累盡鑒生[22]方應漸悟。孔氏之論。聖道既妙。雖顏殆庶體無鑒周。理歸一極。
有新論道士以為。寂鑒微妙不容階級。積學無限何為自絕。今去釋氏之漸悟而取其能至。去孔氏之殆庶而取其一極。一極異漸悟能至非殆庶。故理之所去雖合各取。然其離孔釋矣。余謂二談救物之言。道家之唱得意之說」(CBETA, T52, no. 2103, p. 224, c29 p. 225, a8)
Quảng hoằng minh tập quyển 18 thích thị chi luậnThánh đạo tuy viễn tích học năng chíLũy tận giám sanh[22]phương ứng tiệm ngộKhổng thị chi luậnThánh đạo ký diệu. Tuy nhan đãi thứ thể vô giám chuLý quy nhất cựcHữu tân luận Đạo Sĩ dĩ viTịch giám vi diệu bất dung giai cấpTích học vô hạn hà vi tự tuyệt. Kim khứ thích thị chi tiệm ngộ nhi thủ kỳ năng chí. Khứ khổng thị chi đãi thứ nhi thủ kỳ nhất  cực. Nhất cực dị tiệm ngộ năng chí phi đãi thứ. Cố lý chi sở khứ tuy hiệp các thủNhiên kì ly khổng thích hĩDư vị nhị đàm cứu vật chi ngônĐạo Gia chi xướng đắc ý chi thuyết
, chỉ Nhan Hồi, Nhất cực chỉ tôn cực, vũ trụ thật tướng, 新論道士  chỉ Trúc Đạo Sanh.
Theo Nho Giáo, Thánh đạo rất huyền diệu, Nhan Hồi( đệ tử lớn của Khổng Tử) cũng chỉ đạt đến hiền giả của Thánh nhân, muốn toàn diện thể nhận bản thể của hư vô, quán chiếu chu toản( cùng khắp), từ đó đạt được đạo lý cưu cánh của vũ trụ( Nhất cực). Trúc Đạo Sanh xiển phát Quán Chiếu cảnh giới như nhiên thường tỉnh, là cực vi diệu, không có giai đoạn tầng cấp, muốn ngộ thì ngộ, không ngộ thì không ngộ. Nho Phật đều tùy phương tiện cứu vớt vạn vật. Ngài tiếp nhận và điều hòa học thuyết của Nho và Phật, không giống với học thuyết trước của Phật giáo.
Thuyết Thể Vô của nho giáo thực tế là của Vương Bộc thời Ngụy nói về thể vô của Khổng Tử, thuyết Đốn Ngộ Thành Phật là phương pháp thành Phật cực nhanh, ảnh hưởng lớn trong tư tưởng Phật giáo Trung Quốc, đây là lần đầu tiên và người đầu tiên xiển dương học thuyết này.
Tiểu sử của Tạ Linh Vận:
Tạ Linh Vận (385 433, tự là Khương Lạc 康樂). Xuất thân từ huyện Trần, Đông Nam tỉnh Hồ Nam, nhưng thừa hưởng một vùng đất tại Thủy Ninh, vùng Cối Kê (會稽), nên ông thườ  ng nói vùng đất nầy như là quê hương mình. Ông làm quan dưới triều Lưu Dự, người lập nên triều Tống năm 420. Lưu Dự và các quan tùy tùng đều thán phục thiên tài văn chương của ông và phần nhiều thất vọng khi vua dùng ông như một nhà thơ tài ba vì ông có tham vọng cao hơn. Ông gặp ngài Huệ Viễn lần đầu năm 412 (có lẽ còn sớm hơn). Ở kinh đô, ông thường giao du với những người tân Lão giáo thường tụ tập quanh Thái tử Lô Lăng (ct. 54), nơi ông gặp được Nhan Đình Chi (顔延之) (ghi chú 56) và Huệ Lâm, nhà cải cách Phật giáo (ghi chú 53). Trong số những thư tín trong tập Biện Tông Luận (辯宗論)được viết để bảo vệ tư tưởng Đốn ngộ (Instantaneous Illianination) là của Vương Hoằng (王弘,379 432) và Tăng sĩ Pháp Cang ở núi Hu ch’ui. Những người bạn thường gặp gỡ để bàn luận về tư tưởng của Trúc Đạo Sinh đã được mở rộng thêm (Tang p. 628). Về mối quan hệ riêng giữa Tạ Linh Vận và Trúc Đạo Sinh chúng ta không biết được gì nhiều. Năm 422, Tạ Linh Vận phái qua Vĩnh Gia, ở đó ông viết nhiều thư và sau được sưu tập trong Biện Tông Luận. Năm sau, khi Trung Hoa dưới sự cai trị của nhóm Hsü Hsien chih, ông bị thất sủng, từ bỏ chức quan Thái Uý, vì ông bị nghi ngờ có dính líu đến Thái tử Lô Lăng, người bị sát hại bởi quan nhiếp chính vào năm 424. Ông trở về vùng núi nơi ông đã sống thời thơ ấu, nghiên cứu kinh điển và ngao du. Bạn của ông trong thời gian nầy là Tăng sĩ Đàm Long ở Lô Sơn, với sự ảnh hưởng của vị Tăng nầy, ông đã trở thành người Phật tử chân chính, sống cuộc đời đạm bạc tri túc. Đến năm 426, quan nhiếp chính bị Văn Đế giết, một hướng mới mở ra cho ông những hấp dẫn mà ông không thể từ chối. Văn Đế rất quan tâm đến tư tưởng đạo Phật và tân Lão giáo; vua nhiều lần gọi ông về triều và đối xử với ông rất tốt, dù Tạ Linh Vận đã nhiều lần tự nhủ với mình rằng đừng nên hy sinh sự tự do cá nhân của mình cho sự ưa thích của một ông vua. Vua nổi giận và trách mắng để gây sức ép, rồi trả ông về lại Cối Kê năm 428. Năm 430, ông có dính líu đến một vụ lật đổ với một pháp hữu của mình là Mạnh Khải, quan thái thú Cối Kê. Được báo trước, ông liền trở về kinh đô và thể hiện với vua rằng mình vô can trong vụ nầy. Ông ở kinh đô tham gia vào việc sưu tập kinh Niết bàn (bản Nam) năm 430, và cùng với Huệ Duệ soạn ra Thập tứ âm huấn (Outline of the Fourteen Sound), nỗ lực đầu tiên trong lịch sử đã dùng mẫu tự Hán để chú âm. Nhưng ông không thể sinh hoạt tự do khi còn sự giám sát, ông lại bị cáo buộc và lần nầy ông bị đày đến Lâm Châu, vì bị vu cáo hãm hại. Vua Văn Đế không còn tin dùng ông nữa và sẵn sàng tuyên án tử hình ông. Một viên cận thần đã dũng cảm can gián vua và án tử hình được đổi lại thành án lưu đày ở Quảng Châu, nhưng rồi năm sau 443, các kẻ thù của ông lại tìm để giết hại ông, ‘thi thể bị ném ra đường’ như đã ghi chép. Tống sử, 67, Tang, History pp. 436 440, 627 ff., 663 666.

7. NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI VIẾT
Xuất nguồn tư tưởng
* kinh Duy Ma Cật sở thuyết
  Để tóm gọn tư tưởng Phật quốc hay Phật tánh, trong mỗi chúng sanh ở Phẩm Phât Quốc Độ, Hòa thượng Từ Thông có viết trong cuốn: Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh trực chỉ đề cương, tập I, trang 23: Phật quốc là cõi nước Phật. Nói cách khác là cảnh giới của con người tỉnh thức hoàn toàn và giác ngộ chân lý trọn vẹn…. Cõi nước Phật ở tại tâm người. Con người dứt hết các vô minh phiền não, tâm người sáng suốt giác ngộ chân lý trọn vẹn và sống đúng chân lý thì tâm đó là Phật. Người có tâm Phật ở đâu thì cõi nước đó trở thành cõi nước Phật là Phật quốc.
  Lý bất nhị: Chương chin, Chứng Nhập Pháp Môn Bất Nhị, trang 222:
Duy ma hỏi Văn Thù về Bất Nhị:
Văn thù đáp: sanh và diệt là hai. Vạn pháp xưa không sanh, nay không diệt tỏ ngộ được pháp thân vô sanh đó, tôi thể nhập Pháp môn bất nhị
….. ngã và ngã sỡ… thọ và bất thọ …. Cấu và tịnh …. Động tâm và niệm tưởng….
Văn Thù: Xin nhân giả cho biết cao kiến của Ngài về phương pháp thể nhập Pháp Môn Không hai của một Bồ Tát?
Ông Duy Ma lúc bấy giờ điềm nhiên an tọa. Đại chúng cả hội trường nín thở trông chờ … Ông Duy Ma vẫn im lặng và im lặng…
Văn Thù: Siêu tuyệt thay! Siêu tuyệt! Pháp Môn Không Hai siêu tuyệt! vắng bặc cả văn tự ngữ ngôn.
Giải:
Tự tánh con người vốn trong sáng thanh tịnh. Cái tự tánh trong sáng thanh tịnh đó, chính là Phật tánh của mỗi người. Chính bị kẹt 2 phạm trù nên bị khổ đau sanh tử luân hồi.
* kinh Đại Bát Niết Bàn
Nói về Phật tánh: Nói về Bất Nhị và vượt thoát khổ đau; Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm 12 – Như Lai Tánh, HT. Từ Thông dịch, trang 209: Ngã đồng nghĩa với Như Lai Tàng. Như Lai Tàng đồng nghĩa với Phật Tánh. Tất cả chúng sanh đều  có Phật tánh ấy. Do vậy, trong 25 cõi đều có Ngã. Ngã hay Phật Tánh là cái vốn có của chúng sanh trong 25 cõi; vậy mà từ lâu chúng sanh bị vô minh phiền não ngăn che lấp kín nên không nhận biết.
Nói về Bất Nhị và vượt thoát khổ đau; Kinh Đại Bát Niết Bàn, Phẩm 12 – Như Lai Tánh, HT. Từ Thông dịch, trang 237: là Đệ tử Phật, người có trí phải học nghĩa Trung Đạo trong Phật pháp, mới vượt ra phạm trù đối đãi: Hữu – Vô, Thường – Đoạn… nguyên nhân của mọi vướng mắc khổ đau.
Kinh Niết bàn quét sạch mọi khái niệm, không có chuyện thần minh (soul) sống mãi trong cõi phúc lạc, dường như kinh nầy đã tìm thấy được ước nguyện từ ban sơ. ‘Đức Phật chỉ có chân ngã, do vậy Phật tánh có một năng lực đặc biệt khiến cho Ngài trở nên là vị pháp vương. Niết bàn là chân thường, điều nầy khiến đức Phật có năng lực hiện thân làm lợi lạc cho mọi căn cơ. Đại thừa không thể bị khước từ, vì đã mang đến thông điệp của chân thường chân ngã.
* kinh Thủ Lăng Nghiêm
Kinh Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ đề cương, HT. Từ Thông, Chương thứ 4, trang 172: nói về trạng thái mê và ngộ: Phú Lâu Na! người được đạo Bồ Đề ví như người tỉnh giấc, kể chuyện trong chiêm bao. Tâm ghi nhớ rõ rang nhưng không sao lấy vật trong chiêm bao ra được; huống chỉ cái mê vốn không, không nhân, không gì cả thì tìm sao cho nó có cội nguồn.
Giải: vọng không có nguyên nhân, vì không có nhân nên mới gọi vọng. Vọng ở đây nhằm ám chỉ cho mê, tánh mê, tánh bất giác, tánh phiền não đột xuất ở tâm con người. Người đệ tử Phật có tư duy, sẽ nhận thấy rõ vấn đề mê và giác ở chính bản tâm mình: Mê vọng thuộc khách trần; Giác minh ví như hư không và chủ. Biết mê không trụ chấp thì vọng không phát sanh, thì liền lúc đó tánh giác hiển hiện.
* Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Trước khi nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì Phật vì các hang Bồ Tát nói kinh Vô Lượng Nghĩa Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm. Có nghĩa là muốn hiểu được kinh Pháp Hoa thì trước hết phải chuẫn bị vô lượng nghĩa; điều này đồng nhất với muốn liễu ngộ được Phật tánh thì phải vượt qua được lý Bất Nhị, vượt ngoài ngôn ngữ, mà là thật tướng các pháp. Chỉ có tâm Phật mới hiểu nổi mà thôi.
* Kinh Hoa Nghiêm có bài kệ:
Nhược nhơn dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật
Ứng quán pháp giới tánh
Nhứt thiết duy tâm tạo.
Tư tưởng đốn ngộ thành Phật đã có tư tưởng từ thời Phật. Trúc Đạo Sanh là người hệ thống lại và cho ra một từ ngữ mới, ứng hợp với đất nước mình, với tư tưởng của người dân
III. KẾT LUẬN
Đốn ngộ thành Phật, thành tựu Phật tánh một cách nhanh chóng, không qua thứ lớp, mà tức thì viên mãn thể tánh của Phật.
Mọi người đều có thể học, thực hành theo hạnh của Phật, và có khả năng thành phật. bởi vì “ Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”.
 Tất cả chúng sanh hiện diện trên cõi đời này ai cũng đều mong có được niềm hạnh phúc chân thật, đạt được sự an lạc tối thượng. Điều này cũng là điều mà chư Phật hằng mong ước, mong muốn chúng sanh, vượt thoát khổ đau, chứng ngộ giống như mình. Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật Thích Ca đã nói rõ nguyên nhân ngày xuất hiện trên cõi đời này đó là: “Vì muốn cho chúng sanh Khai tri kiến phật, …. Chỉ tri kiến phật, …. Cho chúng sanh Tỏ Ngộ tri kiến Phật , … cho chúng sanh Chứng Vào tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời”.( Kinh Pháp Hoa, HT. Trí Tịnh dịch, NXB Tôn Giáo, PL 2551, tr 66). Hay nói khác hơn là chứng ngộ Phật tánh, vĩnh thoát sanh tử.
Phương pháp thì Đức Phật dạy có 84000, mỗi pháp đều có công năng giúp chúng ta chuyển phàm thành thánh, ngộ tánh thanh tịnh trong mỗi chúng ta. Vì sao gọi ngộ tánh thanh tịnh? Là vì “Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Chính vì Phật tánh hằng hiện hữu nơi mỗi chúng sanh, nhưng vì vô minh – tham chấp mà không nhận chân được Phật là mình, tức nhận chân lại chính mình, nhà Thiền có câu nói “bản lai diện mục”.
Chính vì chúng sanh đều có Phật tánh nên mỗi chúng sanh đều có khả năng để thành Phật là điều tất yếu. Việc thành Phật theo ngài Trúc Đạo Sinh cho rằng con người có thể thành Phật môt cách nhanh chóng, không qua thứ lớp, tức là “ĐỐN NGỘ THÀNH PHẬT”.
Khi Ngài đưa ra quan điểm này thì có nhiều người không đồng tình vì nhiều lý do khác nhau, nhưng cốt lõi là vì thiếu kinh sách nghiên cứu nên mọi người chưa nhận chân ra được.
Sau đây tổ 4 xin bày tỏ thiển ý với đại chúng về thuyết của Ngài Đạo Sinh như sau

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

Thanh Quy Bách Trượ


Chương I: Dẫn Nhập
1- Lý do chọn đề tài
Xã hội muốn trật tự bền vững thì xã hội đó phải có những quy định về đạo đức hay nếp sống như thế nào. Một đất nước muốn phát triển và an ninh phải có luật pháp. Một tổ chức muốn được trường tồn và thăng hoa thì phải có quy định, quy chế của tập thể cho công việc. Nên để tăng đoàn phát triễn, Phật đạo trường tồn, Đức Thế Tôn từ ban sơ tùy theo thời, theo chỗ hành nghiệp chúng sinh mà chế ra các giới pháp. Đó là tinh thần khế cơ khế lý mà một người con Phật cần phải biết và cần phải nắm rõ.
Nhận ra vấn đề trên, cùng với xã hội hiện nay đang trên đà phát triển mạnh, theo đó thì tệ nạn cũng chạy theo không kém phần. Khi đọc được Thanh Quy Bách Trượng đã làm cho người viết trăng trở, và quyết định chọn đề tài này để nhắc lại đời sống người tu Phạm hạnh trong thời xưa, đồng thời tìm một khuynh hương mới phù hợp với thời hiện đại mà vẫn không xa rời lời Phật dạy ngàn xưa.
2- Mục đích nghiên cứu:
            Chúng ta đều là Phật Tử là người sau này trưởng thành sẽ làm phật "Này Jìvaka, cái gọi là tham, là sân, là si do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lai đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây ta- la, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jìvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời Ta đồng ý với Ông". - "Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói". (Trung Bộ II. 370A-370B). Đây là mục đích của mỗi người xuất gia hay người con Phật, khi công thành quả mãn thì thành tựu Bồ Đề. Ai cũng muốn vậy, mà muốn được vậy thì hãy vâng ý chỉ của Phật, nhưng cũng phải khế thời khế lý mà áp dụng cho phù hợp nên trong thiền gia có câu “tuy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Tức tác trì và chỉ trì cũng phải tùy duyên. Trong cuộc sống thì muôn vàng vấn đề được đặc ra, người viết muốn nương nơi ý Tổ Sư mà nêu lên một số khía cạnh cuộc sống hiện đại.
Chương II: Nội Dung
1. TÌNH HÌNH CÁC TỰ VIỆN TRUNG QUỐC THỜI SƠ THỊNH ĐƯỜNG
Từ nền tảng của Phật giáo nhà Tùy, Phật giáo Trung Quốc đời Đường đã phát triển vượt bậc. Có thể nói đây là thời kỳ Phật giáo phát triển mạnh mẽ nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Gần 300 năm (618 907 TL), Phật giáo được các đế vương bảo hộ nên nhiều bậc cao Tăng thạc đức cũng xuất hiện tổ chức các tông phái Phật giáo mang tính quy củ ảnh hưởng không những trong đương đại mà còn đến tận các thời kỳ sau; không những trong phạm vi Trung Quốc mà còn quảng bá đến các nước khác như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam... Đó là Tịnh Độ tông của Ngài Đạo Xước, Thiện Đạo; Nam Sơn Luật tông của Ngài Đạo Tuyên; Pháp Tướng tông của Ngài Huyền Trang và Từ Ân; Hoa Nghiêm tông của Ngài Pháp Tạng; Thiền tông của Ngài Thần Tú và Huệ Năng; Mật giáo của Ngài Thiện Vô Úy, Kim Cương Trí và Bất Không. Sự nghiệp phiên dịch kinh điển và các tác phẩm trước tác của Ngài Huyền Trang đã vượt quá khuôn khổ Phật giáo trở thành một công trình văn hóa lịch sử của toàn nhân loại. Tác phẩm Đại Đường Tây Vức ký (Tây du ký) của Ngài là nguồn tư liệu vô giá cho khoa văn bản học, văn hiến học... và các ngành khoa học lịch sử hiện nay. Có thể nói Phật giáo Trung Quốc kể từ đời Đường đã thoát ra khỏi các tư tưởng Phật giáo từ thời đại Đông Tấn và Nam, Bắc triều và phát triển thành một hệ tư tưởng mới mà về sau các Ngài Nghĩa Tịnh, Bát Nhã, Thiện Vô Úy... kế thừa.
Tuy nhiên, vào khoảng giữa thế kỷ thứ 9, có phong trào bài xích Phật giáo gọi là "phá Phật" ở Hội Xương do Đường Vũ Tông (trị vì 840-846) dấy lên. Nó đã để lại những tai hại to lớn cho xã hội Phật giáo. Trong lịch sử Trung Quốc, việc bài xích Phật giáo vẫn thường xảy đi xảy lại nhưng lần này, ảnh hưởng của nó thật triệt để và lan rộng khắp lãnh thổ. Đó là một việc trước sau chưa từng có. Tăng lữ bị bắt phải hoàn tục, chùa chiền bị phá hoại, kinh điển (kinh, luận, sớ) thất tán. Do đó nhiều môn phái Phật giáo suy thoái, duy mỗi Thiền Tông là một ngoại lệ. Nó bước những bước chắc chắn, gây dựng được cơ sở và phát triển rộng rãi.
Lý do Thiền Tông không bị suy thoái mà còn vững mạnh thì có nhiều nhưng ít nhất về mặt tư tưởng, nhân vì Thiền Tông trên nguyên tắc không tựa vào kinh điển cho lắm nên dù có bị thất tán cũng không gây ảnh hưởng sâu sắc. Nếu kể đến việc Thành Tây Tiết Độ Sứ Vương Thường Thị qui y với Lâm Tế Nghĩa Huyền ( ? -867) và Nam Bình Vương Chung Truyện bảo vệ giáo đoàn của Động Sơn Lương Giới (807-869) thì thấy được là thiền của Mã Tổ có tính năng động đủ để cho giai cấp tân hưng là nhóm Tiết Độ Sứ đang chiếm giữ các phiên trấn và giới quan lại xuất thân từ khoa cử dễ dàng chấp nhận.
Đứng về mặt kinh tế mà nói thì dù trong tình trạng ly loạn, vùng Giang Nam vẫn tương đối bình yên, tự lúc đầu thiền nhờ đó đã phát triển khá sớm ở đây.Chùa thiền trong sinh hoạt vẫn có truyền thống tổ chức phân chia lao động và tự cung cấp lương thực. Dạng thức sinh hoạt đặc biệt như vậy đã được Bách Trượng Hoài Hải minh định và phổ cập trong các qui tắc gọi là "thanh qui".
2. TIỂU SỬ TỔ BÁ TRƯỢNG HOÀI HẢI(720 – 814)
Tổ họ Vương, người Trường Lạc, Phúc Châu. Thuở còn bé theo mẹ vào chùa lễ Phật, thấy tượng Phật, chỉ tượng hỏi mẹ: "Đây là ai?". Mẹ nói: "Là Phật!". Sư nói: "Hình dạng Phật với người chẳng khác, tôi sau này cũng sẽ làm phật”.
Sư xuất gia từ thở thiếu thời, tam học đều thông, ham thích thiền đốn ngộ, nghe thiền sư Mã Tổ đạo Nhật khai hóa ở Nam Khang (nay là núi Mã Tổ ở Giang Tây), Sư bèn hết lòng y chỉ. Sau khi nói pháp Mã Tổ, Sư được đàn tín thỉnh trụ trì Đại Trí Thọ Thánh thiền tự ở núi Đại Hùng thuộc Hồng Châu, núi cao chót vót, nước suối Ngô Nguyên bay xuống ngàn thước, nên có tên là núi Bá Trượng. Sư trụ trì chưa đầy một tháng, người bốn phương đến tham học vân tập hơn một nghìn, trong đó Qui Sơn và Hoàng Bá làm thượng thủ. Từ đó pháp môn càng ngày càng hưng thạnh, tông phong lừng lẫy, Sư bèn quyết ý lập ra thiền viện đầu tiên. Trước kia các tự viện thiền tông đều nhờ vào chùa của luật tông, từ nay mới được lập riêng. Sư là người khởi sáng cho thiền tự được độc lập, soạn định chế độ tòng lâm, gọi là Bá Trượng thanh quy, nên cũng được tôn xưng là Tổ Trung Hưng của thiền tông.
Một hôm sư hỏi Mã Tổ:
- Bỗng có người đến hỏi Phật pháp thì lúc ấy phải đáp như thế nào?
Mã Tổ cầm cây phất tử đưa lên và hỏi:
- Chỉ có cái này hay còn cái khác?
Mã Tổ đem cây phất tử buông xuống chỗ cũ . Hỏi lại Bách Trượng:
- Về sau ông sẽ dạy người thế nào?
Bách Trượng cầm cây phất tủ đưa lên, Mã Tổ nói:
- Chỉ cái này hay còn cái khác?
- Bách Trượng cũng buông cây phất tử xuống chỗ cũ.
Mã Tổ hét một tiếng lớn, khiến cho Bách Trượng điếc tai ba ngày. Về sau Bách Trượn ở núi Đại Hùng, đem việc này thuật lại cho Hoàng Bá và Qui Sơn nghe, Hoàng Bá nghe xong le lưỡi.
Bách Trượng nói với Hoàng Bá:
- Ông về sau nối dòng Mã Tổ
Hoàng Bá thưa:
- Chẳng, đúng nếu nối dòng Mã Tổ thì về sau mất hết con cháu của con!
Đây là biểu thị Hoàng Bá đích thân đích thân từ Bách Trượng mà thấy được đại cơ đại dụng của Mã Tổ, cho nên chỉ chịu nối dòng Bách Trượng mà chẳng chịu nối Mã Tổ
Một hôm Qui Sơn đứng hầu bên hữu Bách Trượng, Bách Trượng yêu cầu Qui Sơn:
- Dẹp bỏ cổ họng môi lưỡi nói một câu!
Qui Sơn thưa
- Thỉnh hòa thượng nói!
Trượng bảo:
- Ta chẳng từ chối nói cho ông nghe, nhưng về sau mất hết con cháu của ta!
Đây là căn nguyên mà Bách Trượng về sau mở ra hai tông Lâm Tế và Qui Ngưỡng
Sư là người siêng năng làm việc, mỗi khi có việc nhà chùa đều tự mình làm trước cả đại chúng; người chủ sự lén dấu dụng cụ canh tác của Sư, mời Sư nghĩ ngơi, Sư nói: "Đức ta không đủ, đâu dám trúc sự lao động của mình cho người khác!". Kiếm dụng cụ không được thì ngày đó không ăn, cho nên mới có câu: "Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực" (Một ngày không làm, một ngày không ăn). Vì thế mới biết được gia phong của Sư chân thật như thê nào, thật đáng làm mô phạm cho muôn đời.Ngày 17 tháng giêng năm Nguyên Hòa thứ 9 đời nhà Đường (CN 8l4) Sư thị tịch, thọ 9l tuổi
3. SƠ LƯỢC NỘI DUNG BẢN THANH QUY
3.1. Lịch sử ra đời tác phẩm
Sách Bách Trượng thanh quy, được biên soạn vào thế kỷ thứ 8, đời Đường, là một nỗ lực của Đại sư Bách Trượng Hoài Hải nhằm tập hợp, hệ thống hoá, làm cương lĩnh sinh hoạt cho Tăng Ni tại các Tòng lâm ở Trung Hoa, sau khi Phật giáo đã du nhập và phát triển nơi đất nước rộng lớn này gần 7 thế kỷ. Bách Trượng Thanh Quy đã được lưu hành rộng khắp nơi, có giá trị như một kim chỉ nam  hướng dẫn mọi sinh hoạt trong đời sống của người xuất gia, trải qua mấy trăm năm. Nhưng rồi Bách Trượng thanh quy đã bị thất lạc. Đến thập niên 30 của thế kỷ 14, đời vua Thuận Đế nhà Nguyên, thiền sư Đông Dương Đức Huy – cháu nối dòng pháp đời thứ 18 của tổ Bách Trượng đã tạo được sự hỗ trợ tốt đẹp từ triều đình nhà Nguyên, căn cứ theo các bộ Thanh Quy hiện hành, đối chiếu với truyền thống sinh hoạt nơi Tổ đình núi Bách Trượng, tham khảo các tài liệu đã trích dẫn từ Bách Trượng thanh quy, tu chính, bổ khuyết để soạn thành Bộ Thanh Quy mới mang tính hoàn chỉnh, đó là bộ Sắc tu Bách Trượng thanh quy nổi tiếng, truyền đến ngày nay do Hòa thượng Thích phước Sơn và Lý Việt Dũng căn cứ thao bản hiệu có trong Taishō.
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taishō) đã dành riêng một Bộ: Bộ Chư Tông - gồm hơn bốn tập, từ cuối tập 44 và các tập 45, 46, 47, 48 để tập hợp giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu của các Tông phái thuộc Phật giáo Trung Hoa, mở đầu là tác phẩm Đại Thừa Nghĩa Chương (N0 1851) của Đại sư Tuệ Viễn (Tuỳ) và sau hết là tác phẩm Sắc tu Bách Trượng thanh quy (N0 2025) do Thiền sư Đức Huy (Nguyên) trùng biên. Tất nhiên, hầu hết các tác phẩm thuộc Bộ Chư Tông kể trên đều do các Đại sư, các Học giả của Phật học Trung Hoa trứ thuật, sáng tác và hiển nhiên những tác phẩm ấy có giá trị, có những ảnh hưởng nhất định.
Bộ sách này cung cấp cho chúng ta hầu như gần hết các thuật ngữ chuyên dụng trong thiền môn về mọi phương diện như chức vụ, danh xưng, cơ sở, lễ nghi, pháp khí, công cụ hành đạo v.v… Có thể nói, từ hơn 600 năm qua, bộ Sắc tu có ảnh hưởng khá sâu rộng đối với Thiền tông Việt Nam nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung”(Sắc tu, trang 8- 9).
3.2. Tóm Tắt Thanh Quy Bách Trượng
3.2.1. Quyển 1: có 2 chương.
            chương 1 là chúc nước dân giàu mạnh
            Chương 2 nói về việc báo đền ân đức cao trọng
3.2.2. Quyển 2: có 3 chương.
            Chương 3 Báo bổn (báo gốc): uống nước nhớ nguồn những ngày lễ vía Phật, Bồ Tát
            Chương 4 báo ân các vị tổ sư đã có công hoằng truyền giáo pháp đức Phật
            Chương 5 gồm 6 mục
Mục 1 gồm những quy tác, vai trò của Trụ trì.
3.2.3. Quyển 3: nối tiếp 5 mục của chương 5
            Tiếp chương 5
                        Mục 2 phương thức mời một trụ trì mới
                        Mục 3 Tân thọ mạng Trụ trì vào thiền viện mới
                        Mục 4 Qui đinh Trụ trì từ chức
                        Mục  5 nghi lễ và cách thức sắp xếp khi một trụ trì qua đời
                        Mục 6 cách thức suy cử một Trụ trì
                       
3.2.4. Quyển 4: có 2 chương.
            Chương 6 cách thức tổ chức và quản lý một tự viện, hai dãy đông – tây đại chúng
            Chương 7 khuyến khích đại chúng tu học và giữ phép lục hòa trong chúng
3.2.5. Quyển 5: nối tiếp chương 7 có 13 mục
            Tiếp những cách giữ lục hòa trong chúng và cách thức một hành giả tu Phật từ bước sadi phải làm gì thọ giới như thế nào, sắm sửa đạo cụ ra sao…khi lên thiền đường ngồi thiền với đại chúng thì oai nghi như thế nào
3.2.6. Quyển 6: nối tiếp quyển 5. có 10 mục
            Tiếp chương 7 đó là phép lục hòa, những phương cách sinh hoạt trong chốn tòng lâm, khi có một vị tăng viên tịch phải làm thế nào, vật dụng của vị tăng đã tịch xử lí ra sao.
3.2.7. Quyển 7: có 1 mục của quyển 6 và 1 chương 8
            Chương 8 cách thức thông báo và tổ chức các ngày lễ tiết và hạ an cư
3.2.8. Quyển 8: chương 9 nói về những vật dụng của thiền môn
Nói về các loại pháp khí và cách thức hiệu lệnh trong đại chúng.

3.3. Nội dung chính của Thanh Quy Bách Trượng
3.3.1. Trùng nguyên nghĩa
Có 5 trùng nguyên nghĩa:
1- Lấy nhơn dụ - pháp làm danh
2- Quyền - thật - tướng làm thể
3- Giữ luật lệ nội hộ làm tông
4- Y pháp rõ sự làm dụng
5- Lấy sữa đặc bơ và dụng là giáo tướng.
3.3.2. Dựa theo thời cuộc
Theo bài tự ngôn của văn bản Dương Ức Cổ Thanh Quy, và truyện viết về Bách Trượng trong Tống Cao Tăng Truyện của Tán Ninh, qua đó chỉ có thể dẫn ra một cách khái quát nội dung quan trọng về vấn đề Thanh Quy trong chốn Tùng Lâm mà Bách Trượng đã xây dựng nền tảng, đó là:
1.                  Khi vào tăng đường, bất kể trình độ(tu chứng, học tập) thấp cao, tất cả đều tập trung vào một chỗ để tham học. trong thiền đường bố tri một cái giường được gọi là “trường liên sang”(giường dài liên tiếp), mọi người đều sử dụng nó để nằm hay ngồi tọa thiền.
2.                  Trụ trì gọi là trưỡng lão, ở tại phương trượng.
3.                  Không xây phật điện, chỉ có pháp đường để vị trưỡng lão nói pháp, hai bên xếp hang đứng nghe. Trụ trì hay trưỡng lão đăng đàn thuyết pháp, hoặc nêu ra những phạm trù trọng yếu của tông môn cho hành giả tham học,, những sự kiện như vậy đều được tiến hành ở đây.
4.                  Thường hạnh là ở trên dưới cùng chung sức thính pháp, cùng lao động tập thể theo qui định, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

Đây là một sự kiện nảy sinh độc đáo, đúng alf cuộc sang tạo trong xây dựng, và là cư sở kinh tế duy nhứt trong chốn thiền lâm vào thời ấy. có thể cho rằng, bốn điều khoản vừa nêu ra là cốt tủy của thanh quy bách trượng. những điểm như vậy, đã đáp ứng được sự phát triển và những.
Thiền học mà đại sư nêu giữ, thực sự kết hợp khắng khít với sinh hoạt đời thường, phật sự phải được nghiệm chứng trong cần lao trường ngày như vậy. tinh thần lạc quan của thiền tông tích cực nhắm tới, là sự biểu hiện toàn vẹn ở việc lao động thực tế. điều này cùng với quan điểm dẫn đọa được đại sư nêu lên, kết hợp cùng việc rèn luyện chính bản thân của hành giả là không thể tách rời. thường khi lao động, Sư nghỉ ngơi, Sư nói “ta vốn vô đức, phải cực cho người sao?” khi nào tìm kiếm khắp mà không gặp nông cụ, thì khi đó Sư bỏ ăn. Do vậy mới có câu “một ngày không làm, một ngày không ăn” lẫy lừng thiên hạ.
3.4. Sự truyền thừa:
Tào Khê Huệ Năng (638 - 713) -> Nam Nhạc Hoài Nhượng  -> Mã Tổ Đạo Nhất   ->  Bách Trượng Hoài Hải
Tông Lâm Tế:
1 Mã Tổ Đạo Nhất -> 2 Bách Trượng Hoài Hải -> 3 Hoàng Bá Hy Vận -> 4 Bùi Hưu, đồng 4 Lầm Tế Nghĩa Huyền -> 5 Hưng Hóa Tồn Tương -> 6 Nam Viện Huệ Ngung -> 7 Phong Huyệt Diên Chiểu (Lâm Tế Tông). Đồng 4 Mục Châu Đạo Tung. Đồng 5 Ngụy Phủ Đại Giác, 5 Tam Thánh Huệ Nhiên. Về sau Tông Lâm Tế chia thêm 2 nhánh truyền thừa cho đến ngày nay.
Tông Quy Ngưỡng:
1 Mã Tổ Đạo Nhất  ->  2 Bách Trượng Hoài Hải  ->  Đồng 3 Phúc Châu Đại An, đồng 3 Quy Sơn Linh Hựu -> 4 Ngưỡng Sơn Huệ Tịch  ->  5 Tây Tháp Quang Mục  ->  6 Tư Phúc Như Bảo (Quy Ngưỡng Tông). Đồng 5 Nam Tháp Quang Dũng  ->  6 Ba Tiêu Huệ Thanh (Quy Ngưỡng Tông). Đồng 4 Linh Vân Chí Cần, đồng 4 Hương Nghiêm Trí Nhàn.
4. GIÁ TRỊ VÀ ỨNG DỤNG
4.1. Giá trị
Cuộc sống của người dân thường cũng cần có luật pháp, bậc tăng sĩ mô phạm của nhân thiên cũng có phạm hạnh. Cho nên vấn đề giới luật được đức Phật nhấn mạnh trong kinh Đai Bát Niết Bàn “hãy lấy Ba La Đề Mộc Xoa làm thầy”, trãi qua mấy nghìn năm thời đại thay đổi, dẫn đến hoàn cảnh thay đổi, nhận thức con người cũng đổi thay qua từng thời kỳ. Nhận  thấy xã hội và thời cuộc nên thiền sư Bách Trượng mới trước tác Thanh Quy để khế thời, khế cơ, khế lý mà áp dụng vào đời tu sĩ làm cho phù hợp hơn, tạo sự thanh tịnh trong tăng đoàn.
Thanh quy này, từ ngài Phương Trượng cho đến ban chấp sự không một người nào chẳng đọc qua, mà với kẻ mới học thật là cần thiết để việc hành trì được thuần thục; chẳng nên gặp việc không nghi. Vã nhờ đó hành giả mới có thể thúc liễm hình nghi, huân tập tâm thức; hiện tại không buông lung gây thêm lầm lỗi, mai hậu mới xứng đáng bậc thầy mô phạm làm lợi ích trời người không nhỏ.
Ba hạng căn đều được lợi, người lợi độn căn đều thấm nhuần một lần đọc qua dường như văn dễ hiểu, đọc kỹ lại đến lần thứ ba, thứ tư nghĩa lý thâm sâu khó lường. Kẻ thô tâm hời hợt trong sách khó mong nuốt trôi. Trong tập này đối với chỗ nghĩa sâu khó hiểu thời dẫn chứng nghĩa rõ ràng dễ hiểu để tiện cho người sơ cơ lãnh hội.
4.2. Ứng dụng
            Trong cuộc sống tăng sinh, đa phần nhiều nơi về câu hội để tu học, nhờ lòng từ bi của các bậc thầy giáo thọ, hoặc các vị trụ trì tại trú xứ thành phố Hồ Chí Minh, mà cho chúng ta tá túc tu học. Đó là đại ân, đại đức mà ta không thể đền trả, chỉ có thể giữ đúng tinh thần giới luật của phật, oai nghi phép tắc mà tại bổn tự quy định, đó là chổ mong câu mà chư tôn thiền đức luôn hi vọng.
            Tình hình các tự viện ở Việt Nam chúng ta không như thời của tổ Bách Trượng, có nhiều chùa chỉ có một thầy một trò, hoặc chỉ có một vị   ở chùa nhất tăng nhất tự. Như thế thì khó mà tổ chức như trong Thanh Quy được, nhưng cũng không thể bỏ hoàn toàn bởi oai nghi phép tắc của một vị tu sĩ thì không thể thiếu. Nên việc áp dụng giới luật Phật và Thanh Quy cũng trở nên linh hoạt hơn; như những vấn đề: uống nước nhớ nguồn các lễ báo trọng ân, hay sử dụng pháp khí trong tự viện…tất cả cần phải tham học nơi Thanh Quy. Vấn đề tự túc tự lực cánh sinh, mà tổ Bách Trượng niêu từ thời xưa thì ngày nay rất cần thiết cho cuộc sống hàng tăng lữ, vì ở quốc gia chúng ta không có sự trợ cấp của nhà nước như thời xưa. Nhưng việc làm kinh tế nuôi sống cho chùa thì cũng không nên coi trọng nó quá mà dẫn đến không khác kẻ đời, tối ngày chỉ mưu tính việc hơn thua, lời lổ, phiền não vây bũa cõi tâm uỗng một đời tu. Nên tri túc là thường lạc, tức là không nên quên đi bản nguyện ban đầu xuất gia vì mục đích giải thoát giác ngộ.
Oai nghi tế hạnh và giới luật là điều cần yếu cho người con Phật, cho dù Tiểu Thừa hay Đại Thừa đều phải hành trì giới luật. Một lời xấu ác đã phát ra, ngưng làm tức gìn giữ, đây cũng chính là Thanh Quy vậy. Chốn Thiền môn có điều luật cấm lỗi, ngăn quấy v.v... là để giữ luật, dứt ác. Mỗi mỗi nghi tiết như tham thiền, niệm Phật v.v... là giữ luật hành trì. Cả hai điều dứt và làm đây phù hợp với giới luật. Ngoài ra, lấy đức cảm hóa người làm cho họ phát tâm tin Phật pháp. Trong lo việc duy trì chánh pháp, luôn đem pháp truyền bá sâu rộng, làm cho bánh xe pháp lưu chuyển mãi không ngừng, như vậy để lợi mình và lợi người: Đây gọi là giữ luật bên trong làm Tông vậy. Nếu người không giữ giới luật, không theo đúng Thanh Quy chính là ác ma tự phá diệt Phật pháp. 
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN
Hai chữ Thanh Quy là Pháp. Trước hết có nghĩa là gạn cho lắng sạch, mô phạm thanh bạch, trải ra hằng ngày mà xiển dương giáo pháp Phật đà. Trong đời sống của người xuất gia, về cơ bản, giới luật chính là trang nghiêm tự thân, hướng về mục tiêu hoàn thiện chính mình, còn những quy định, thanh quy thiền môn là pháp thức hành xử trong các mối quan hệ đối nhân, tiếp vật. Sống là sống với, do đó những pháp quy mang bản chất thanh tịnh và giải thoát sẽ là hệ quy chiếu cần thiết để ổn định một đời sống tập thể.
Và với câu nói: “một ngày không làm là một ngày không ăn”, nay còn truyền rộng trong đời. Nơi đây thể hiện tinh thần tự lực cánh sinh của tăng ni, chủ động được trong mọi tình huốn. Phương châm này rất phù hợp cho tinh thần nhập thế thời hiện đại.




THƯ MỤC THAM KHẢO:
- Sắc tu Bá Trượng thanh quy do HT.Phước Sơn và Thầy Lý Việt Dũng soạn dịch,
-  Bá Trượng Tòng lâm thanh quy do HT. Bảo Lạc dịch.
- Tham khảo trên các trang wep như
- Tình hình đời sống tu sĩ hiện nay được cập nhật trên tờ báo Giác ngộ…